Những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự
Khi tham gia tranh tụng trong các vụ án hình sự, điều cốt lõi và kim chỉ nam của nghề Luật sư khi bào chữa cho bị cáo là phải tìm ra được những tình tiết loại trừ trách nhiệm hình sự, những chuyển biến của tình hình có lợi cho bị cáo cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Trong quá trình tham gia xét xử tại Tòa án nhân dân các cấp và qua thực tiễn bào chữa cho bị cáo trong một số vụ án Hình sự trọng điểm tại địa bàn TP Hà Nội, nhận thấy được những khó khăn và bất cập của Tòa án khi áp dụng điều 46 Bộ luật hình sự năm 1999 sửa đổi, bổ sụng năm 2009.
Để giúp quý khách hàng hiểu được rõ hơn về các tình tiết giảm nhẹ và phương pháp gỡ tội cho bị cáo, Luật Khôi Việt phân tích như sau:
Về tình tiết “Người phạm tội tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại, khắc phục hậu quả” (điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự).
Sửa chữa, bồi thường và khắc phục là ba khái niệm có nội dung khác nhau, cụ thể: sửa chữa là chữa lại những cái bị hư hỏng; bồi thường là đền bù lại những thiệt hại mà mình gây nên cho người khác; khắc phục hậu quả là khắc phục những thiệt hại trực tiếp hoặc gián tiếp do hành vi phạm tội gây nên mà những thiệt hại này không thể bồi thường hay sửa chữa được. Như vậy, điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự quy định có ba tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội tự nguyện sửa chữa thiệt hại, người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại, người phạm tội tự nguyện khắc phục hậu quả chứ không phải chỉ là một tình tiết giảm nhẹ. Do tính chất của ba tình tiết này gần giống nhau nên được quy định trong cùng một điểm.
Về tình tiết “Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” (điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự).
Thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là hai khái niệm có nội dung khác nhau, cụ thể: Thành khẩn khai báo là không khai gian dối một điều gì có liên quan đến hành vi phạm tội; ăn năn hối cải là trường hợp sau khi phạm tội, người phạm tội cảm thấy bị cắn rứt, giày vò lương tâm về những việc mình làm, hối hận và muốn sửa chữa sai lầm. Như vậy, điểm p khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự quy định có hai tình tiết giảm nhẹ là người phạm tội thành khẩn khai báo và người phạm tội ăn năn hối cải chứ không phải chỉ là một tình tiết giảm nhẹ.
Về tình tiết “phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại hoặc gây thiệt hại không lớn” (điểm g khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự).
Khái niệm “chưa gây thiệt hại” và “gây thiệt hại không lớn” đều nằm ngoài ý chí chủ quan của người phạm tội. “Chưa gây thiệt hại” là trường hợp hậu quả vật chất do hành vi phạm tội chưa xảy ra trên thực tế như hành vi chiếm đoạt tài sản nhưng chưa lấy được tài sản ra khỏi tầm kiểm soát của chủ tài sản.
“Gây thiệt hại không lớn” là trường hợp đã có thiệt hại xảy ra nhưng thiệt hại đó không lớn hơn so với mức thông thường. Khi xác định hậu quả như thế nào là thông thường, hậu quả nào là không lớn (dưới mức bình thường) cần căn cứ vào các quy định cụ thể của từng loại tội phạm, đánh giá tính chất mức độ nguy hiểm của tội phạm, thiệt hại cụ thể đã gây ra cho người bị hại và cho xã hội (cả thiệt hại vật chất và thiệt hại phi vật chất) trong từng trường hợp cụ thể.
Bên cạnh các TTGN trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1 Điều 46, BLHS còn quy định TTGN tại khoản 2 Điều 46 với nội dung, “Khi quyết định hình phạt, Tòa án còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.”
Quy định tại khoản 2 Điều 46 mà trước đây đã được quy định tại khoản 2 Điều 38 BLHS năm 1985. Trong đó, thay cụm từ “nhưng phải ghi trong bản án” thành “nhưng phải ghi rõ trong bản án”. Quy định này nhằm nhấn mạnh sự phân tích, dẫn giải của Tòa án khi muốn xem xét một tình tiết là TTGN trách nhiệm hình sự, ngoài các tình tiết đã liệt kê tại khoản 1 Điều 46 BLHS phải có sự giải thích rõ trong bản án.
Để áp dụng thống nhất TTGN trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS, tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04/8/2000 hướng dẫn áp dụng một số quy định trong phần chung của BLHS năm 1999 (sau đây viết tắt là Nghị quyết số 01/2000), Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao đã hướng dẫn các tình tiết sau đây được coi là các tình tiết giảm nhẹ khác:
“- Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước:
- Bị cáo là thương binh hoặc có người thân thích như vợ, chồng, cha, mẹ, con (con đẻ hoặc con nuôi), anh, chị, em ruột là liệt sỹ;
- Bị cáo là người tàn tật do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác, có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên;
- Người bị hại cũng có lỗi;
- Thiệt hại do lỗi của người thứ ba;
- Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo;
- Người bị hại hoặc đại diện hợp pháp của người bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong trường hợp chỉ gây tổn hại về sức khoẻ của người bị hại, gây thiệt hại về tài sản;
- Phạm tội trong trường hợp vì phục vụ yêu cầu công tác đột xuất như đi chống bão, lụt, cấp cứu.
Ngoài ra, khi xét xử, tuỳ từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội mà còn có thể coi các tình tiết khác là tình tiết giảm nhẹ, nhưng phải ghi rõ trong bản án.”
Từ hướng dẫn tại điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000, chúng ta thấy rằng TTGN trách nhiệm hình sự rất đa dạng, chúng ta không thể dự trù hết được nên việc quy định mở tại BLHS và hướng dẫn của Hội đồng Thẩm phán là cần thiết.
Đây là điểm tiến bộ trong việc quy định về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự tại Nghị quyết số 01/2000 so với Nghị quyết số 01-HĐTP/NQ ngày 19/4/1989 hướng dẫn về các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 38 BLHS năm 1985 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử cho thấy có những cách hiểu và vận dụng khác nhau đối với quy định: “Khi xét xử, tuỳ từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội mà còn có thể coi các tình tiết khác là TTGN, nhưng phải ghi rõ trong bản án”, cụ thể như sau:
- Quan điểm thứ nhất cho rằng, việc áp dụng tình tiết khác phải là những tình tiết mở rộng các tình tiết đã được liệt kê tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000, tức là phải kết hợp giữa tình tiết được liệt kê tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000 với nội dung “tuỳ từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội” để xác định một tiết có phải là TTGN tại khoản 2 Điều 46 hay không.
- Quan điểm thứ hai cho rằng, khi xét xử, Tòa án chỉ dựa vào “từng trường hợp cụ thể và hoàn cảnh cụ thể của người phạm tội” để xác định một tình tiết có phải là TTGN tại khoản 2 Điều 46 BLHS hay không mà không phụ thuộc tình tiết đó phải là tình tiết mở rộng của các TTGN được liệt kê tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000.
Thực tế, TTGN trách nhiệm hình sự rất đa dạng nên các tình tiết được nêu tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000 chưa bao hàm hết tất cả các TTGN. Mặt khác, quy định tại khoản 2 Điều 46 là quy định mở nên hướng dẫn tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000 hướng dẫn Điều luật nêu trên cũng phải là quy định mở. Do đó, chúng tôi thống nhất với quan điểm thứ hai.

Những tình tiết giảm nhẹ trách nhiêm hình sự
Trên thực tế, có nhiều cách hiểu và áp dụng khác nhau đối với quy định tại khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự và hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/2000 của Hội đồng Thẩm phán, cụ thể như sau:
Xác định TTGN qua việc mở rộng các yếu tố về chủ thể, phạm vi, điều kiện áp dụng của các TTGN được liệt kê tại điểm c Mục 5 kết hợp với nội dung mở ở cuối điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000.
Đối với tình tiết thứ nhất quy định tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000 có nội dung: “Vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột bị cáo là người có công với nước hoặc có thành tích xuất sắc được Nhà nước tặng một trong các danh hiệu vinh dự như: anh hùng lao động, anh hùng lực lượng vũ trang, người mẹ Việt Nam anh hùng, nghệ sỹ nhân dân, nghệ sĩ ưu tú, nhà giáo nhân dân, nhà giáo ưu tú, thầy thuốc nhân dân, thầy thuốc ưu tú hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước”.
Khi xét xử, có Hội đồng xét xử đã mở rộng “chủ thể” được tặng danh hiệu cao quý có quan hệ với người phạm tội ngoài “vợ, chồng, cha, mẹ, con, anh, chị, em ruột” với người phạm tội là “ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, cháu ruột kêu người phạm tội là ông, bà nội, ngoại” vì cho rằng, tình tiết thứ nhất tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000 quy định chủ thể được tặng danh hiệu cao quý là những người thuộc hàng thừa kế thứ nhất và thứ hai của người phạm tội cho nên việc mở rộng phạm vi chủ thể như thế này vẫn thuộc hàng thừa kế thứ hai [1] của người phạm tội. Thực tế, đã có trường hợp, Tòa án cấp sơ thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm không áp dụng tình tiết ông nội bị cáo được thưởng huân chương, bố mẹ chồng bị cáo là gia đình liệt sĩ nên đã bị Tòa án cấp giám đốc thẩm hủy án. Ví dụ: vụ án Quàng Thị Uân bị kết án về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” ở Lào Cai. Hội đồng xét xử giám đốc thẩm TANDTC đã quyết định hủy bản án hình sự phúc thẩm và bản án sơ thẩm xét xử Quàng Thị Uân để xét xử sơ thẩm lại với nhận định như sau:“Mặt khác, khi xét xử Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm còn có một số sai lầm, thiếu sót như sau: Tại phiên toà phúc thẩm, Quàng Thị Uân khai “có ông nội được thưởng Huân chương, bố mẹ chồng là gia đình liệt sỹ”. Trong hồ sơ vụ án có bản sao (có công chứng) Huân chương kháng chiến hạng ba của ông Quàng Văn Lẻ, Huân chương chiến công hạng ba của liệt sỹ Lò Văn Phương và bằng Tổ quốc ghi công mang tên liệt sỹ Lò Văn Phương, nhưng Tòa án cấp sơ thẩm và Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét, kiểm tra các tài liệu này để làm rõ mối quan hệ giữa những người nêu trên với bị cáo, làm cơ sở cho việc áp dụng tình tiết giảm nhẹ khi quyết định hình phạt đối với bị cáo”.2
Sau khi liệt kê các danh hiệu cao quý được Nhà nước phong tặng, tiết 1 điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000 còn quy định mở “…hoặc các danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước”. Có Hội đồng xét xử đã chấp nhận các hình thức khen thưởng trong đấu tranh giải phóng dân tộc, chống Mỹ cứu nước như: Dũng sĩ diệt Mỹ, dũng sĩ diệt Ngụy, dũng sĩ diệt xe tăng, dũng sĩ diệt máy bay, dũng sĩ phá bom… là TTGN trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 2 Điều 46 BLHS với lý do chủ trương phong tặng các danh hiệu này được sự cho phép của Chính phủ Việt Nam dân chủ cộng hòa, Mặt trận giải phóng dân tộc Miền Nam Việt Nam và để được tặng danh hiệu này cá nhân đó phải có thành tích lớn. Cho nên, việc áp dụng xem các danh hiệu này là “danh hiệu cao quý khác theo quy định của Nhà nước” để áp dụng TTGN tại khoản 2 Điều 46 cho bị cáo là phù hợp với đạo lý, chính sách nhân đạo của Nhà nước ta3.
- Đối với tình tiết thứ sáu quy định tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000 có nội dung: “Gia đình bị cáo sửa chữa, bồi thường thiệt hại thay cho bị cáo”. Thực tế, có Hội đồng xét xử đã mở rộng phạm vi chủ thể sửa chữa, bồi thường thay cho bị cáo vì cho rằng: bản chất của tình tiết này nhằm khắc phục, hạn chế thiệt hại do hành vi phạm tội gây ra, do đó, dù gia đình, bạn bè hay đồng nghiệp, cấp trên của bị cáo bồi thường thay cho bị cáo thì bản chất sự việc như nhau; việc mở rộng chủ thể bồi thường trong trường hợp này không nên giới hạn để nhanh chóng khắc phục, hạn chế hậu quả mà hành vi phạm tội do bị cáo gây ra.
- Đối với tình tiết thứ ba quy định tại điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000 có nội “Bị cáo là người tàn tật do bị tai nạn trong lao động hoặc trong công tác, có tỷ lệ thương tật từ 31% trở lên.” Nhiều Hội đồng xét xử đã xem xét áp dụng TTGN tại khoản 2 Điều 46 BLHS nếu khi thực hiện hành vi phạm tội họ là người tàn tật mà không cần xác định nguyên nhân của việc bị tai nạn với lập luận: quy định này chỉ giới hạn bị cáo bị tàn tật do tai nạn lao động, trong công tác mà không quy định thêm các trường hợp tàn tật do nguyên nhân khác (như: tại nạn giao thông, do tai bão lụt, hỏa hoạn …) là chưa phù hợp, tạo ra sự bất bình đẳng giữa những người bị tàn tật với nhau, nguyên nhân dẫn đến việc bị cáo bị tàn tật không phải là dấu hiệu để xem xét giảm nhẹ cho bị cáo mà mấu chốt vấn đề là khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo là người tàn tật.
Xác định TTGN dựa vào những tình tiết giảm nhẹ được quy định tại khoản 1 Điều 46 BLHS
Thực tiễn xét xử, có nơi Hội đồng xét xử đã áp dụng tình tiết giảm nhẹ ở khoản 2 Điều 46 BLHS khi người phạm tội chỉ đáp ứng 01 nội dung đối với những tình tiết giảm nhẹ được liệt kê tại khoản 1 Điều 46 BLHS có 02 nội dung. Chẳng hạn, đối với TTGN “phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 46 BLHS, thực tiễn có nơi, khi người phạm tội chỉ có tình tiết “phạm tội lần đầu” hoặc tình tiết “thuộc trường hợp ít nghiêm trọng” thì có Tòa án đã mặc nhiên áp dụng TTGN tại khoản 2 Điều 46 BLHS cho người phạm tội; đối với tình tiết, “người phạm tội tự nguyện bồi thường thiệt hại” được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 46 BLHS nhưng người phạm tội không có trách nhiệm bồi thường nhưng đã tự nguyện bồi thường thì có nơi Tòa án áp dụng TTGN tại khoản 2 Điều 46 BLHS cho người phạm tội.
Một số tình tiết được áp dụng là TTGN thuộc khoản 2 Điều 46 BLHS nhưng phải có điều kiện kèm theo khi áp dụng đối với từng vụ án cụ thể.
Trong thực tế, có Hội đồng xét xử cho rằng một số tình tiết được xác định là TTGN thuộc khoản 2 Điều 46 BLHS khi chúng kèm theo “điều kiện” cụ thể, điều kiện đó phải gắn với từng vụ án, người phạm tội cụ thể. Tức là, chúng có ý nghĩa giảm nhẹ đối với trường hợp này nhưng lại không có giá trị giảm nhẹ trong trường hợp khác, đó là các tình tiết: sự việc phạm tội xảy ra đã lâu; người phạm tội và người bị hại có quan hệ gia đình…4. Đối với tình tiết “sự việc phạm tội xảy ra đã lâu” chỉ được áp dụng là TTGN thuộc khoản 2 Điều 46 BLHS khi trong khoảng thời gian từ khi tội phạm được thực hiện đến khi xét xử, người phạm tội luôn chấp hành tốt chính sách pháp luật ở địa phương, thời gian kéo dài là do lỗi của cơ quan, người tiến hành tố tụng hay do nguyên nhân khách quan, không phải xuất phát từ người phạm tội. Đối với tình tiết “người phạm tội và người bị hại có quan hệ gia đình”, chỉ được áp dụng là TTGN tại khoản 2 Điều 46 BLHS khi người phạm tội với lỗi vô ý, phạm tội nhất thời do tác động bên ngoài.
Xác định các tình tiết khác là TTGN dựa vào hướng dẫn ở cuối điểm c Mục 5 Nghị quyết số 01/2000 mà không có sự đánh giá cụ thể.
Đó là các tình tiết: đã thu hồi được tài sản do phạm tội mà có; người phạm tội có công việc ổn định và được bảo lãnh; phạm tội vì phụ thuộc vào người khác, nể nang không có tính chất vụ lợi; người phạm tội có tuổi đời còn trẻ; phạm tội do bị lôi kéo, rủ rê; phạm tội do quá tự tin vào người khác; bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; bị cáo có trình độ văn hóa thấp, am hiểu pháp luật còn hạn chế; phạm tội do bộc phát, nhất thời; người phạm tội vận động đồng bọn tự thú; bị cáo là người có nhiều năm tham gia lực lượng vũ trang hoặc chiến đấu ở các chiến trường B, C, K, hoặc công tác ở vùng khí hậu độc hại hoặc hành nghề độc hại làm giảm tuổi thọ; bị cáo đang mắc bệnh hiểm nghèo (ung thư, HIV); bị cáo bị mắc bệnh tâm thần trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, mới tạm điều trị ổn định; bị cáo đang ốm nặng, bệnh nặng hoặc sức khỏe quá yếu; bị cáo đang mắc bệnh nặng, nan y; bị cáo là người lao động duy nhất trong gia đình, nếu bị phạt tù nhiều năm sẽ làm cho gia đình đặc biệt khó khăn…Ngoài ra, trong một số vụ án, Tòa án còn xác định một số tình tiết sau là TTGN trách nhiệm hình sự thuộc khoản 2 Điều 46 BLHS: bị cáo bị tạm giam khá lâu; phạm tội do dùng chất kích thích dẫn đến không làm chủ được bản thân; hay bị cáo đã tự nguyện giao nộp số tiền thu lợi bất chính; bị cáo tự nguyện giao nộp tiền phạt trước khi phiên tòa phúc thẩm diễn ra;
Việc áp dụng như 03 trường hợp đầu, trong thực tiễn còn có quan điểm chưa thống nhất nhưng theo chúng tôi là chấp nhận được. Đối với trường hợp thứ tư thì theo chúng tôi là áp dụng không có căn cứ.


