Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội
Khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, ngoài các quy định của Bộ luật hình sự đối với người đã thành niên phạm tội, thì Toà án còn phải áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Chương X (từ Điều 68 đến Điều 77). Trường hợp áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự đối với người chưa thành niên cũng như đối với người đã thành niên, phải đảm bảo các điều kiện mà Điều 47 đã quy định. Khi xác định mức hình phạt tù cụ thể đối với người chưa thành niên phạm tội, Toà án xác định mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội như đối với trường hợp người phạm tội là người đã thành niên, tức là yếu tố “chưa thành niên” của bị cáo tạm thời chưa xem xét đến.

Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.(Hình minh họa)
Trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội không được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự nhưng Toà án vẫn có thể áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, nếu họ có đủ các điều kiện quy định tại Điều 74 Bộ luật hình sự.
Ví dụ: Bùi Huy T 15 tuổi 8 tháng, phạm tội cướp tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ bảy năm đến mười lăm năm tù. T chỉ có một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Giả thiết Bùi Huy T là người đã thành niên thì mức hình phạt mà Toà án quyết định đối với T là 10 năm, nhưng vì T mới 15 tuổi 8 tháng, nên theo quy định tại Điều 74 Bộ luật hình sự thì T chỉ bị phạt 5 năm tù (1/2 mức hình phạt mà người đã thành niên phải chịu). Mặc dù T không được áp dụng Điều 47 nhưng không vì thế mà cho rằng Toà án vi phạm Điều 47 Bộ luật hình sự.
Nguồn tham khảo:
Thạc sỹ: Đinh Văn Quế - Tòa án Tối cao.


