Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội

Khi quyết định hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội, ngoài các quy định của Bộ luật hình sự đối với người đã thành niên phạm tội, thì Toà án còn phải áp dụng các quy định của Bộ luật hình sự đối với người chưa thành niên phạm tội quy định tại Chương X (từ Điều 68 đến Điều 77). Trường hợp áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự đối với người chưa thành niên cũng như đối với người đã thành niên, phải đảm bảo các điều kiện mà Điều 47 đã quy định. Khi xác định mức hình phạt tù cụ thể đối với người chưa thành niên phạm tội, Toà án xác định mức hình phạt tương xứng với tính chất và mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội như đối với trường hợp người phạm tội là người đã thành niên, tức là yếu tố “chưa thành niên” của bị cáo tạm thời chưa xem xét đến.

Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.

Hình phạt đối với người chưa thành niên phạm tội.(Hình minh họa)

Ví dụ: Nguyễn Văn A 17 tuổi 3 tháng 20 ngày, phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 3 Điều 138 Bộ luật hình sự. A có 4 tình tiết giảm nhẹ quy định tại các điểm b, i, p và q khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự, không có tình tiết tăng nặng. A được Toà án áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự, tức là A được áp dụng hình phạt quy định tại khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự (từ hai năm đến bảy năm tù). Giả thiết, nêu A là người đã thành niên thì Toà án sẽ phạt 2 năm tù, nhưng A là người chưa thành niên ở độ tuổi từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi nên theo quy định tại Điều 74 Bộ luật hình sự thì mức hình phạt của A chỉ bằng 3/4 mức hình phạt đối với người đã thành niên. Do đó mức hình phạt thực tế mà Toà án áp dụng đối với Nguyễn Văn A trường hợp cụ thể này là 1 năm 6 tháng tù (2x3:4). Nếu chỉ căn cứ vào Điều 47 Bộ luật hình sự thì hình phạt 1 năm 6 tháng tù mà Toà án quyết định đối với Nguyễn Văn A là không đúng quy định của Điều 47 (dưới 2 năm tù-mức thấp nhất của khung hình phạt nhẹ hơn liền kề), nhưng vì A là người chưa thành niên nên mức hình phạt này không vi phạm Điều 47 Bộ luật hình sự. Trong trường hợp này, Toà án vẫn phải áp dụng cả Điều 47 và Điều 74 Bộ luật hình sự mới đầy đủ.
 
Thực tiễn xét xử do không nắm chắc quy định của Điều 47 Bộ luật hình sự và các điều luật có liên quan nên đã có trường hợp Toà án quyết định hình phạt đối với bị cáo là người chưa thành niên dưới mức thấp nhất của khung hình phạt liền kề nhẹ hơn, bị Viện kiểm sát kháng nghị. Khi xét xử phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm hoặc giám đốc thẩm đã chấp nhận kháng nghị của Viện kiểm sát vì cho rằng Toà án đã vi phạm Điều 47 Bộ luật hình sự. Việc kháng nghị của Viện kiểm sát và việc chấp nhận kháng nghị như vậy rõ ràng là chưa nắm chắc các quy định của Bộ luật hình sự về quyết định hình phạt nói chung và việc áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự nói riêng.

Trong trường hợp người chưa thành niên phạm tội không được áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự nhưng Toà án vẫn có thể áp dụng mức hình phạt dưới mức thấp nhất của khung hình phạt, nếu họ có đủ các điều kiện quy định tại Điều 74 Bộ luật hình sự.

Ví dụ: Bùi Huy T 15 tuổi 8 tháng, phạm tội cướp tài sản thuộc trường hợp quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật hình sự có khung hình phạt từ bảy năm đến mười lăm năm tù. T chỉ có một tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm h khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Giả thiết Bùi Huy T là người đã thành niên thì mức hình phạt mà Toà án quyết định đối với T là 10 năm, nhưng vì T mới 15 tuổi 8 tháng, nên theo quy định tại Điều 74 Bộ luật hình sự thì T chỉ bị phạt 5 năm tù (1/2 mức hình phạt mà người đã thành niên phải chịu). Mặc dù T không được áp dụng Điều 47 nhưng không vì thế mà cho rằng Toà án vi phạm Điều 47 Bộ luật hình sự.

Nguồn tham khảo:

Thạc sỹ: Đinh Văn Quế - Tòa án Tối cao.